Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Kỹ thuật nuôi bồ câu pháp sinh sản

  •  Kỹ thuật nuôi bồ câu pháp sinh sản là một kỹ thuật mà bất cứ người yêu chim bồ câu (biểu tượng hòa bình ) điều muốn có . Để ấp dụng đúng kỹ thuật nuôi bồ câu pháp sinh sản nhiều bạn nên tìm hiểu về chim bồ câu khi đó bạn có tầm nhìn bao quát về loài chim này rồi thì bạn mới nên tìm hiểu "kỹ thuật nuôi chim bồ câu pháp " hay "kỹ thuật nuôi chim bồ câu pháp sinh sản "
Tìm kiếm google :
  • Mô hình nuôi bồ câu pháp
  • kỹ thuật nuôi bồ câu pháp sinh sản 
  • cách nuôi bồ câu pháp 
  • kỹ thuật chăn nuôi bồ câu pháp 
  • mô hình chuồng nuôi bồ câu pháp 
  • ki thuat nuoi bo cau phap
  • huong dan nuoi bo cau phap 
  • nuoi bo cau phap sinh san 
  • phuong phap nuoi bo cau phap 
  • chan nuoi bo cau phap
Họ bồ câu là gì ?
  • Họ Bồ câu (danh pháp: Columbidae) là một họ thuộc bộ Bồ câu (Columbiformes), bao gồm khoảng 300 loài chim cận chim sẻ. Tên gọi phổ biến của các loài trong họ này là bồ câu, cu, cưu, gầm ghì.
  • Các loài trong họ này phổ biến rộng khắp thế giới, ngoại từ sa mạc Sahara và châu Nam Cực, nhưng có sự đa dạng lớn nhất tại các khu vực sinh thái Indomalaya và Australasia. 
Đặc điểm sinh học bồ câu  
Sinh lý bồ câu
Thân nhiệt chim bồ câu ổn định trong điều kiện nhiệt độ môi trường thay đổi; chim bồ câu là động vật hằng nhiệt.
Thân chim hình thoi làm giảm sức cản không khí khi bay. Da khô phủ lông vũ. Lông vũ bao phủ toàn thân là lông ống, có phiến lông rộng tạo thành cánh, đuôi chim (vai trò bánh lái). Lông vũ mọc áp sát vào thân là lông tơ. Lông tơ chỉ có chùm sợi lông mãnh tạo thành lớp xốp giữ nhiệt và làm thân chim nhẹ.
  • Cánh chim khi xòe ra tạo thành một diện tích rộng quạt gió, khi cụp lại thì gọn áp vào thân.
  • Chi sau có bàn chân dài ba ngón trước, một ngón sau, đều có vuốt, giúp chim bám chặt vào cành cây khi chim đậu hoặc duỗi thẳng, xòe rộng ngón khi chim hạ cánh.
  • Mỏ sừng bao bọc hàm không có răng, làm đầu chim nhẹ. Cổ dài, đầu chim linh hoạt, phát huy được tác dụng của giác quan (mắt, tai), thuận lợi khi bắt mồi, rỉa lông. Tuyến phao câu tiết chất nhờn khi chim rỉa lông làm lông mịn, không thấm nước.
Cách di chuyển của bồ câu 
  • Chim bồ câu cũng như nhiều loài chim khác chỉ có kiểu bay vỗ cánh như chim sẻ, chim ri, chim khuyên, gà...
a) Khi chim cất cánh chân chim khuỵu xuống, cánh chim dang rộng đưa lên cao, tiếp theo cánh chim đập mạnh xuống, cổ chim vươn ra, chân chim duỗi thẳng đập mạnh vào giá thể làm chim bật cao lên.
b) Khi chim hạ cánh, cánh chim dang rộng để cản không khí, chân chim duỗi thẳng chuẩn bị cho sự hạ cánh được dễ dàng.
Cách tư thế bay vỗ cánh của bồ câu
  • Khi chim bồ câu bay thân nằm xiên, đuôi xòe ngang, cổ vươn thẳng về phía trước, chân duỗi thẳng áp sát vào thân, cánh mở rộng đập liên tục từ trên xuống dưới, từ trước về sau. Sau đó chim nâng cánh bằng cách gập cánh lại, rồi nâng lên làm giảm sức cản của không khí. Khi chim đập cánh, phía ngoài cánh hạ thấp hơn phía trong thì cánh không những được không khí nâng lên mà chim còn được đẩy về phía trước.
Phân loại và tiến hóa của chim bồ câu  Danh sách dưới đây liệt kê các chi, phân loại theo nhóm và tên khoa học.
Họ Columbidae
  • Phân họ Columbinae bồ câu điển hình
    • Chi Columba, gồm cả Aplopeliabồ câu Cựu thế giới (33-34 loài còn sinh tồn, 2-3 loài mới tuyệt chủng gần đây)
    • Chi Streptopelia, gồm cả StigmatopeliaNesoenas – chim cu, cu sen, cu ngói, cu cườm v.v (14-18 loài còn sinh tồn)
    • Chi Patagioenasbồ câu Mỹ; trước đây gộp trong Columba (17 loài)
    • Chi Macropygia (10 loài)
    • Chi Reinwardtoena (3 loài)
    • Chi Turacoena (2 loài)
  • Phân họ không tên – cu cánh hoàng đồng và họ hàng
    • Chi Turturbồ câu rừng châu Phi (5 loài; đặt vào đây không chắc chắn)
    • Chi Oenabồ câu Namaqua (đặt vào đây không chắc chắn)
    • Chi Chalcophaps (2 loài cu luồng)
    • Chi Henicophaps (2 loài)
    • Chi Phaps (3 loài)
    • Chi Ocyphaps bồ câu mào
    • Chi Geophaps (3 loài)
    • Chi Petrophassabồ câu đá (2 loài)
    • Chi Geopelia (3–5 loài)
  • Phân họ Leptotilinaebồ câu Zenaida và họ hàng
    • Chi Zenaida (7 loài)
    • Chi Ectopistesbồ câu Passenger (tuyệt chủng; 1914)
    • Chi Leptotila (11 loài)
    • Chi Geotrygonbồ câu cút (16 loài)
    • Chi Starnoenas bồ câu Cuba đầu lam
  • Phân họ Columbininae – cu đất Mỹ
    • Chi Columbina (7 loài)
    • Chi Claravis (3 loài)
    • Chi Metriopelia (4 loài)
    • Chi Scardafella – có lẽ thuộc về chi Columbina (2 loài)
    • Chi Uropelia – cu đất đuôi dài
  • Phân họ không tên – cu đất Ấn Độ-Thái Bình Dương
    • Chi Gallicolumba (16-17 loài còn sinh tồn, 3-4 loài mới tuyệt chủng)
    • Chi Trugon – cu đất mỏ dày
  • Phân họ Otidiphabinaebồ câu gà lôi
    • Chi Otidiphaps bồ câu gà lôi
  • Phân họ Didunculinaebồ câu mỏ răng
    • Chi Didunculusbồ câu mỏ răng
  • Phân họ Gourinae – quan cưu
    • Chi Goura (3 loài)
  • Phân họ không tên ("Treroninae"?) – gầm ghì và bồ câu lục, bồ câu ăn quả
    • Chi Ducula – gầm ghì (36 loài)
    • Chi Lopholaimusbồ câu Topknot
    • Chi Hemiphaga (2 loài)
    • Chi Cryptophapsbồ câu Sombre
    • Chi Gymnophapsbồ câu núi (3 loài)
    • Chi Ptilinopusbồ câu ăn quả (khoảng 50 loài còn sinh tồn, 1-2 loài mới tuyệt chủng)
    • Chi Natunaornisbồ câu lớn Viti Levu (Hậu kỷ đệ Tứ)
    • Chi Drepanoptilabồ câu lông chẻ
    • Chi Alectroenasbồ câu lam (3 loài sinh tồn)
  • Phân họ Raphinae – chim Dodo và họ hàng
    • Chi Raphus – chim Dodo (tuyệt chủng; cuối thế kỷ 17)
    • Chi Pezophaps – đô đô Rodrigues (tuyệt chủng; khoảng năm 1730)
  • Vị trí chưa được giải quyết
    • Chi Caloenasbồ câu Nicobar
    • Chi Treronchim cu xanh (23 loài)
    • Chi Phapitreron bồ câu nâu (3 loài)
    • Chi Leucosarciabồ câu Wonga
    • Chi Microgourabồ cau mào Choiseul (tuyệt chủng; đầu thế kỷ 20)
    • Chi Dysmoropeliabồ câu St Helena (tuyệt chủng)
    • Chi chưa xác định
      bồ câu cổ đảo Henderson, Columbidae chi không rõ loài mơ hồ (gen. et sp. indet., Hậu kỷ đệ Tứ)
Biểu tượng chim bồ câu : 
Do thái giáo và Kitô giáo 
  • Trong Do Thái giáo và Kitô giáo, con chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình bởi vì theo Kinh Thánh, nó đã đem cành ô liu báo hiệu cho con tàu Nô-ê rằng Thiên Chúa đã thôi cơn thịnh nộ. Bên cạnh đó, Tân Ước cũng ghi nhận chim bồ câu tượng trưng cho Chúa Thánh thần, xuất hiện như một biểu tượng cơ bản của sự trong sáng, sự chất phác, sự hòa thuận, sự hy vọng. Ngoài ra, bồ câu còn biểu thị cho sự thăng hoa của bản năng và đặc biệt là sự thăng hoa của ái tình (éros).
Tôn giáo đa thần
  • Trong nhãn quan của tôn giáo đa thần, với sự định giá một cách khác khái niệm trong trắng, không đối lập nó mà hòa nhập nó với tình yêu xác thịt, bồ câu con chim của nữ thần Aphrodite, biểu thị cho ái ân trọn vẹn mà người yêu thường tặng cho đối tượng của mình.
  • Nhưng quan niệm thực ra chỉ khác nhau về bề ngoài ấy đã làm cho bồ câu nhiều khi trở thành biểu tượng cho cái không thể tử vong trong con người, tức là bản nguyên của sự sống, linh hồn. Với tư cách ấy trên một số vại chôn cất của người Hi Lạp, bồ câu được họa hình uống từ một cái bình tượng trưng cho nước nguồn của trí nhớ. Hình ảnh này được tiếp nhận vào trong hệ hình tượng của đạo Kitô, ví dụ như trong truyện tử vì đạo của thánh Polycarpe, một con chim bồ câu đã bay ra từ thi hài của vị thánh này.
  • Tất cả những biểu trung ấy xuất phát hiển nhiên từ vẻ đẹp và sự duyên dáng của con chim này, từ màu trắng tinh khiết và tiến gù êm ái của nó. Cái đó giải thích vì sao trong ngôn ngữ thông thường nhất cũng như cao siêu nhất, trong lối nói lóng của dân Paris cũng như trong Tuyệt diệu ca, từ bồ câu có mặt trong số những ẩn dụ phổ biến nhất ngợi ca người phụ nữ. "Linh hồn càng tiến gần tới ánh sáng bao nhiêu", Jean Daniélou viết, dẫn lời thánh Grégoire ở Nysse, "nó càng trở nên đẹp bấy nhiêu và trong ánh sáng đó sẽ tiếp nhận hình bồ câu". Thế nhưng chẳng phải người đang yêu đương say đắm vẫn gọi người mình yêu là "linh hồn của anh ơi" cuối cùng xin ghi chú rằng chim bồ câu là một con chim đặc biệt dể gần, là điều làm gia tăng giá trị luôn luôn chính diện của biểu tượng này.
Văn hóa quốc gia 
  • Ở Trung Hoa cổ, theo nhịp cơ bản của các mùa, âm và dương nối tiếp nhau, con chim bồ cắt biến thành bồ câubồ câu biến thành chim bồ cắt, do đó chim bồ câu được xem là biểu tượng của mùa xuân vì nó xuất hiện trở lại vào tiết xuân phân tháng tư. Phải chăng đó là nguồn gốc của cái tên "bồ câu - bồ cắt" gán cho nhà trinh thám?
  • Ở xứ Kabylie, những con chim bồ câu vây quanh ngôi mộ của ông thánh đạo Hồi là thành hoàng của làng; nhưng ở nhiều nơi khác, chim bồ câu được xem là giống chim báo điều gở vì tiến gù của chim là lời kêu than của những linh hồn đau khổ.
Quốc tế
  • Một điều hiển nhiên trong quan niệm thế giới ngày nay, con chim bồ câu là biểu tượng cho sự hòa bình, yên vui và hạnh phúc, và hình tượng đó ăn sâu vào tiềm thức của tất cả mọi người, qua từng thế hệ và qua từng cuộc chiến tranh, tuy rằng hình tượng chim bồ câu chỉ mới chính thức trở thành biểu tượng hòa bình sau Chiến tranh thế giới II. Trong các sự kiệm phản chiến hay đấu tranh vì tự do, hòa bình thì chúng ta không lạ khi thấy những con chim bồ câu được trang trí trên những biểu ngữ, cờ và áo... nó tượng trưng cho một sự nổ lực vì hòa bình của nhân loại.
Kỹ thuật nuôi chim bồ câu 
Kỹ thuật nuôi chim bồ câu pháp phần 1:
  • Thịt bồ câu ngon và bổ. Khi bồ câu ra giàng ( 28 ngày tuôi), thịt chứa 17.5% protein, 3% lipit. Tuy nhiên, bồ câu ta chỉ đạt khối lượng 300-400g/ con, mỗi năm đẻ 6-7 lứa, năng suất thịt còn thấp. Hiện nay, có nhiều giống bồ câu ngoại được chọn lọc, cho năng suất thịt rất cao, trong đó có giống chim bồ câu Pháp
  • Nuôi chim bồ câu Pháp theo phương pháp nuôi nhốt, bán công nghiệp là phương pháp giúp người nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao, trong quá trình nuôi chăm sóc chim bồ câu Pháp, cần chú ý các kỹ thuật sau:         
1. Chọn giống chim bồ câu                      
Một cặp bồ câu sinh sản có thể dùng sản xuất trong 5 năm. Tuy nhiên, sau 3 năm, khả năng sinh sản có chiều hướng giảm, cần phải thay thế.
-    Tiêu chuẩn con giống:
+ Khỏe mạnh, lông mượt, không có bệnh tật, dị tật, lanh lợi.
+ Chim đạt từ 4-5 tháng.
-   Phân biệt trống mái dựa trên ngoại hình:
                 + Con trống: đầu thô, có phản xạ gù mái lúc thành thục, khoảng cách giữa 2 xương chậu hẹp.
                 + Con mái: nhỏ hơn, đầu nhỏ và thanh, khoảng cách giữa 2 xương chậu rộng.

2. Chuồng nuôi chim bồ câu
-Yêu cầu chuồng nuôi: Có ánh nắng mặt trời, khô ráo, thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh, tránh được gió lùa, mưa.
-Chuồng nuôi gồm có nhiều loại:
Chuồng nuôi cá thể( Nuôi chim sinh sản từ 6 tháng tuổi trở đi):
  • Chuồng nuôi bao gồm các ô chuồng. Mỗi một đôi chim trống mái sinh sản được nuôi trong một ô chuồng. Kích thước của một ô chuồng:Chiều cao: 40 cm, chiều sâu: 60 cm, chiều rộng: 50 cm
Chuồng nuôi quần thể(  Nuôi chim hậu bị sinh sản từ 2-6 tháng tuổi):
  • Kích thước của một gian: Chiều dài:6 m, Chiều rộng: 3.5m, Chiều cao: 5.5 m( cả mái)
  • Mật độ nuôi thả là 10-14 con/ m2
Chuồng nuôi dưỡng chim thịt (Nuôi vỗ béo thương phẩm từ 21- 30 ngày tuổi):
  • Chuồng nuôi có cấu tạo tương tự như chuồng nuôi cá thể nhưng mật độ là 40-50 con/ m2  
    3. Thiết bị nuôi chim bồ câu
 - Ổ đẻ
+ Do đang trong giai đoạn nuôi con, chim bồ câu đã đẻ lại, nên mỗi đôi chim cần 2 ổ, một ổ để đẻ và ấp trứng đặt ở trên, một ổ để nuôi con đặt ở dưới.
+ Ổ có thể làm bằng gỗ, chất dẻo.
+ Yêu cầu: Sạch sẽ, khô ráo, tiện cho việc vệ sinh, thay rửa thường xuyên.
+ Kích thước của ổ:
            Đường kính: 20-25cm
            Chiều cao: 7-8 cm
-Ngoài ra, trong chuồng nuôi chim bồ câu, cần có máng ăn, máng uống, máng đựng thức ăn bổ sung.
-Bóng đèn: Cần vào mùa đông ở miền Bắc, lắp bóng 40w chiếu sáng thêm vào ban đêm từ 3-4h với cường độ 5w/m2 nền chuồng

4. Nước uống
-Nước uống: sạch sẽ, không màu, không mùi, được thay hằng ngày.
-Có thể bổ sung Vitamin và kháng sinh để phòng bệnh khi cần thiết.
5. Chăm sóc
Thời kỳ đẻ và ấp trứng
-Dùng rơm khô, sạch sẽ để lót ổ.
-Nơi ấp trứng phải yên tĩnh, giảm tầm nhìn, ánh sáng.
-Cần theo dõi ngày chim đẻ bằng cách ghi chép lại, để có thể ghép ấp những quả trứng có cùng ngày đẻ hoặc chênh lệch nhau 2-3 ngày( số lượng trứng ghép ấp tối đa: 3 quả/ ổ)
            -Khi chim ấp được 18-20 ngày, trứng sẽ nở thành con. Những đôi chỉ nở 1 con thì có thể ghép nuôi vào những ổ 1 con khác cùng ngày nở, hoặc chênh lệch 2-3 ngày. Số lượng con ghép tối đa : 3 con/ ổ.
            Thời kỳ nuôi con
            - Thay lót ổ thường xuyên( 2-3 ngày/ lần)
            - Khi chim non được 7-10 ngày, cho ổ đẻ thứ hai vào.
              Thời kỳ nuôi vỗ béo
              -Khi bồ câu được 20-21 ngày tuổi, khối lượng cơ thể đạt 350-400g/ con, tiến hành tách khỏi mẹ để nuôi vỗ béo.
              -Thức ăn dùng để nhồi: Ngô (80%)+ Đậu xanh (20%)
             -Cách nhồi: Thức ăn được nghiền nhỏ, viên thành viên nhỏ ngâm cho mềm rồi sấy khô, đảm bảo tỷ lệ thức ăn/ nước là 1:1
               -Chú ý không để có không gian cho chim hoạt động nhiều, đảm bảo ngoài giờ ăn uống thì thời gian ngủ là chính.
               Thời kỳ chim dò
                -Sau khi bồ câu được 28-30 ngày tuổi, tiến hành tách chim non khỏi mẹ, đưa vào chuồng quần thể nuôi.
               -Bổ sung vitamin, các chất kháng sinh vào nước uống để chống mềm xương, trợ giúp tiêu hóa và phòng chống các bệnh thường gặp ở chim bồ câu.
Kỹ thuật nuôi chim bồ câu pháp phần 2:
  • Trong quá trình nuôi bồ câu, ngoài các yếu tố như chuồng trại, con giống ... thì vấn đề thức ăn, chế độ dinh dưỡng và cách cho ăn cho ăn cũng hết sức quan trọng, quyết định đến hiệu quả kinh tế của quá trình nuôi 
1. Nhu cầu dinh dưỡng
Nhu cầu về dinh dưỡng của chim bồ câu tuỳ theo giai đoạn phát triển của chim. Sau đây là nhu cầu cần thiết cho chim sinh sản:
Năng lượng (kcal/ME):  2900-3000
Protein thô (%): 13,4-14,4%
Ca (%):  2-3%
P (%):  0,6-0,8%
NaCl (%):  0,3-0,35
Methionin (%):  0,3
Lizin (%):  0,3-0,7
Chim bồ câu nuôi nhốt rất cần chất khoáng, do đó phải thường xuyên bổ sung vào các máng ăn riêng cho chim ăn tự do.

2. Các loại thức ăn thường sử dụng nuôi chim bồ câu
  • Thông thường chim ăn trực tiếp các loại hạt thực vật: đỗ, ngô, thóc, gạo... và một lượng cần thiết thức ăn đã gia công chứa nhiều chất khoáng và vitamin.
+ Đỗ bao gồm: đỗ xanh, đỗ đen, đỗ tương,...Riêng đỗ tương hàm lượng chất béo nhiều nên cho ăn ít hơn và phải được rang trước khi cho chim ăn.
+ Thức ăn cơ sở: thóc, ngô, gạo, cao lương,..trong đó ngô là thành phần chính của khẩu phần. Yêu cầu của thức ăn phải đảm bảo sạch, chất lượng tốt, không mốc, mọt.
Chim bồ câu cần một lượng nhất định các hạt sỏi,? giúp cho chim trong quá trình tiêu hoá của dạ dày (mề). Kích cỡ của các hạt: dài 0,5-0,8mm, đường kính 0,3-0,4mm. Vì vậy nên đưa sỏi vào máng dành riêng đựng thức ăn bổ sung cho chim ăn (trộn cùng với muối ăn và khoáng Premix).

3. Cách phối trộn thức ăn cho chim bồ câu
Thức ăn bổ sung (chứa vào máng ăn riêng): Khoáng Premix: 85%; NaCl: 5%; Sỏi: 10%
Bổ sung liên tục trong máng cho chim ăn tự do. Tuy nhiên hỗn hợp được trộn nên dùng với một lượng vừa phải. Không nên để thức ăn bổ sung quá nhiều trong một thời gian dài gây biến chất các thành phần có trong hỗn hợp.
Khi phối trộn thức ăn, càng nhiều thành phần càng tốt, đảm bảo đủ chất lượng và bổ sung hỗ trợ cho nhau đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên nguyên? liệu khác nhau cách phối hợp cũng khác nhau, thông thường lượng hạt đậu đỗ từ 25-30%; ngô và thóc gạ 75-75%.
Sau đây là 2 khẩu phần đang được ứng dụng nuôi chim bồ câu Pháp:
Khẩu phần 1: (Sử dụng nguyên liệu thông thường)
Nguyên liệu & GTDD Chim sinh sản Chim dò
Ngô (%) 50 50
Đỗ xanh (%) 30 25
Gạo xay (%) 20 25
Năng lượng ME (kcal/kg) 3165,5 3185,5
Protein (%) 13,08 12,32
ME/P 242,08 258,5
Ca (%) 0,129 0,12
P(%) 0,429 0,23
 Khẩu phần 2: (Sử dụng kết hợp cám gà công nghiệp)
Nguyên liệu & GTDD Chim sinh sản Chim dò
Cám viên Proconco C24 (%) 50 33
Ngô hạt đỏ (%) 50 67
Năng lượng ME (kcal/kg) 3000 3089
Protein (%) 13,5 11,99
Xơ thô (%) 4,05 3,49
Ca (%) 2,045 1,84
Phot pho tiêu hóa (%) 0,40 0,25
Lizin (%) 0,75 0,52
Methionin (%) 0,35 0,29

 4. Cách cho ăn
- Thời gian:
2 lần trong ngày buổi sáng lúc 8-9h, buổi chiều lúc 14-15 h, nên cho ăn vào một thời gian cố định trong ngày.
- Định lượng:
Tuỳ theo từng loại chim mà chúng ta cho ăn với số lượng thức ăn khác nhau, thông thường lượng thức ăn= 1/10 trọng lượng cơ thể:
- Chim dò (2-5 tháng tuổi): 40-50g thức ăn/con/ngày:
- Chim sinh sản: (6 tháng tuổi trở đi)?
 + Khi nuôi con: 125-130g thức ăn/đôi/ngày
 + Không nuôi con: 90-100g thức ăn/đôi/ngày
 - Lượng thức ăn/đôi sinh sản/năm: 45-50kg
    4.1. Chim sinh sản (6 tháng tuổi trở đi)
Sau khi được nuôi tập trung ở giai đoạn chim dò đến 5 tháng tuổi và đã ghép đôi tự nhiên, mỗi đôi đó được chuyển sang 1 ô chuồng riêng đã được chuẩn bị sãn sàng về máng ăn, máng uống, ổ đẻ, máng đựng thức ăn bổ sung như đã hướng dẫn ở trên. Giai đoạn này có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng riêng.
     a. Thời kỳ đẻ và ấp trứng
Khi ghép đôi xong, quen với chuồng và ổ, chim sẽ đẻ. Trước khi chim đẻ, chuẩn bị ổ (chỉ dùng 1 ổ). Dùng rơm khô, sạch sẽ và dài để lót ổ. ở những lứa đầu tiên chim thường có hiện tượng làm vãi rơm gây vỡ trứng, do đó nên bện 1 vòng rơm lót vừa khít đường kính của ổ.
- Nơi ấp trứng? phải yên tĩnh, đặc biệt với chim ấp lần đầu nên giảm bớt tầm nhìn, âm thanh, ánh sáng để chim chuyên tâm ấp trứng.
- Theo dõi ngày chim đẻ bằng sổ sách ghi chép cụ thể hoặc? nếu máng ăn được làm bằng tôn thì dùng bút dạ ghi trực tiếp lên máng. Nhờ vậy chúng ta có thể ghép ấp những quả trứng có cùng ngày đẻ hoặc chênh lệch nhau 2-3 ngày (số lượng trứng ghép ấp tối đa: 3 quả/ổ)
- Khi chim ấp nên định kỳ kiểm tra: xem trứng có thụ tinh không (soi trứng khi ấp được 7 ngày) trứng không được thụ tinh thì loại? ngay. Có thể dựa vào kinh nghiệm để nhận biết được trứng có phôi hay không thông qua màu sắc của vỏ trứng.
Khi chim ấp được 18 -20 ngày sẽ nở, nếu quả trứng nào mổ vỏ lâu? mà chim không đạp vỏ trứng chui ra thì người nuôi cần trợ giúp bằng cách bóc vỏ trứng để chim non không chết ngạt trong trứng.
Những đôi chỉ nở 1 con thì chúng ta cũng có thể ghép nuôi con vào những ổ 1 con khác với ngày nở chênh lệch nhau 2-3 ngày (có cùng ngày nở là tốt nhất), số lượng con ghép tối đa: 3 con/ổ
    b. Thời kỳ nuôi con
Trong thời kỳ nuôi con (từ khi nở đến 28 ngày tuổi), cần thay lót ổ thường xuyên (2-3 ngày/lần), để tránh sự tích tụ phân trong ổ vì đó là nơi lý tưởng cho ký sinh trùng, vi khuẩn và virus.?
Khi chim non được 7-10 ngày mới tiến hành cho ổ đẻ thứ hai vào. Sau khi tách mẹ, ổ đẻ tương ứng được bỏ ra rửa sạch, phơi khô để bố trí lứa đẻ tiếp theo.
    4.2. Chim dò (2-5 tháng tuổi) nuôi hậu bị sinh sản
Sau khi được 28-30 ngày tuổi chúng ta tiến hành tách chim non khỏi mẹ.
Chim dò được nuôi thả ở chuồng quần thể với lứa tuổi tương đương nhau. Sau khi rời ổ, chim non chuyển sang một giai đoạn mới phải tự đi lại, tự ăn. Giai đoạn này chim còn yếu, khả năng đề kháng và khả năng tiêu hoá kém dễ sinh bệnh. Do đó cần chú ý công tác chăm sóc nuôi dưỡng. Giai đoạn này nên bổ sung Vitamin A, B, D, các chất kháng sinh...vào nước uống để chống mềm xương, trợ giúp tiêu hoá và chống các bệnh khác. Trong giai đoạn đầu có một số con chưa quen cuộc sống tự lập không biết ăn, uống do đó người nuôi phải kiên nhẫn tập cho chim non.
    4.3. Nuôi vỗ béo chim lấy thịt
Tiến hành tách mẹ lúc 20-21 ngày tuổi (khối lượng cơ thể đạt 350-400g/con) dùng nhồi vỗ bé
- Địa điểm: Nhà xây, lán trại, khu nuôi riêng, dùng lồng như chuồng cá thể đã trình bày ở trên cần đảm bả sạch sẽ, thoáng mát, tuyệt đối yên tĩnh, chỉ có ánh sáng khi cho chim ăn, uống.
- Mật độ: 45-50 com/m2 lồng, không để không gian cho chim hoạt động nhiều, đảm bảo ngoài giờ ăn,uống thì thời gian ngủ là chính.
- Thức ăn dùng để nhồi: Ngô: 80%, đậu xanh 20%
- Cách nhồi: Thức ăn được nghiền nhỏ,? viên thành viên nhỏ ngâm cho mềm rồi sấy khô đảm bảo tỷ lệ? thức ăn/nước: 1:1
+ Định lượng: 50-80 g/con
+ Thời gian: 2-3 lần/ngày
+ Phương pháp :
* Nhân công: Dùng tay nhét thức ăn vào miệng chim
                   * Dùng máy nhồi như vịt
- Khoáng vẫn được bổ sung tự do, các loại vitamin, thuốc bổ khác? được bổ sung trong nước uống.
Những tấm gương thành công khi áp dụng kỹ thuật nuôi chim bồ câu pháp
  • Bỏ tấm bằng đại học loại khá, chị Nhung khởi nghiệp bằng việc nuôi 300 con bồ câu trong một căn phòng 30m2.  
  • Chị Trương Thị Thùy Nhung (32 tuổi), xã Điện Nam Bắc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tốt nghiệp một trường đại học ngoại ngữ loại khá vào năm 2003. Sau đó, chị tìm được công việc hướng dẫn viên du lịch tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Tuy nhiên, khi sinh con, nghề hướng dẫn viên nay đây mai đó không còn phù hợp nên chị chuyển việc vào năm 2005.
  • 4 năm làm nhiều công việc văn phòng nhưng chị không thể trang trải cuộc sống với mức thu nhập rất thấp. Thấy mẹ chị nuôi chim bồ câu Pháp khá thuận lợi, đến năm 2009, chị Nhung cũng bắt tay nuôi thử nghiệm 300 con bồ câu trong một căn phòng diện tích 30m2. Sau một năm, nhận thấy loài chim này rất hợp khí hậu và sinh sản tốt, mang lại hiệu quả kinh tế nên chị quyết định nghỉ công việc văn phòng. Chị Nhung mua thêm 1.200 con giống, nhân rộng mô hình và tăng diện tích chuồng trại lên 220m2.
  • Đến nay, số bồ câu tại trang trại của chị được nhân lên 6.000 con, tương đương 3.000 cặp bồ câu. Diện tích chuồng trại cũng được tăng lên hơn 500m2 và phải thuê thêm 2 nhân công. 
  • "Loài này chu kỳ sinh sản ngắn, chỉ khoảng 40 ngày một lứa, nuôi cũng nhanh lớn nên số bồ câu được sinh ra và xuất chuồng cứ gối đầu nhau. Do đó, trong trại lúc nào cũng duy trì số bồ câu như vậy", chị Nhung cho hay. 
  • Mỗi tháng, riêng trang trại của chị xuất khoảng 2.000 cặp bồ câu thịt và giống cho các thương lái ở Đà Nẵng, TP HCM, Tây Nguyên, Hà Nội, Vĩnh Phúc... Giá bán giống dao động từ 150.000 đến 300.000 đồng một cặp, bồ câu thịt khoảng 70.000 đến 80.000 đồng một cặp. Cứ 1.000 cặp bồ câu xuất chuồng, sau khi trừ các chi phí nhân công thì được lãi khoảng 20 triệu đồng.
  • Do nhu cầu đầu ra lớn nên chị Nhung phải thu mua thêm khoảng 1.000 cặp bồ câu mới đủ các đơn hàng. "Bà con quanh vùng chủ yếu do mình cung cấp giống nên mình bao luôn đầu ra cho họ", chị cho hay. 
  • Chị Nhung chia sẻ, ưu điểm của loài bồ câu Pháp là không cần diện tích chuồng trại rộng, tiêu thụ ít thức ăn, chủ yếu là ăn gạo, thóc, thỉnh thoảng bổ sung một chút cám. Bồ câu Pháp cũng khá phù hợp khí hậu ở miền Trung, khả năng miễn dịch cao nên nên ít bệnh...  Bà chủ trẻ cũng cho biết, giống này sinh sản nhiều, một năm, trung bình mỗi cặp đẻ 8 đến 10 lứa, tuổi sinh sản kéo dài từ 4 đến 5 năm nên khả năng thu hồi vốn nhanh. 
  • "Nuôi chim bồ câu Pháp không khó, chỉ cần chú ý vệ sinh chuồng trại tốt thì chúng sẽ không bệnh tật và nhanh lớn", chị Nhung chia sẻ.
Tìm kiếm google 
  • nuôi bồ câu pháp 
  • lam giau nho uoi bo cau phap 
  • mô hình nuôi chim bồ câu pháp 
  • chim bố câu pháp giống 
  • kỹ thuật nuoi6i chim bồ câu pháp 
  • quy trình kỹ thuật nuôi chim bồ câu pháp 
  • huong dan nuoi chim bo cau phap 
  • nuoi chim bo cau phap sinh san 
  • cach nuoi chim bo cau phap de
  • kỹ thuật nuôi bồ câu gà
  • kỹ thuật nuôi bồ câu đẻ
  • tim hieu ve bo cau phap 
Tags:
Mô hình nuôi bồ câu pháp, kỹ thuật nuôi bồ câu pháp sinh sản , cách nuôi bồ câu pháp , kỹ thuật chăn nuôi bồ câu pháp , mô hình chuồng nuôi bồ câu pháp , ki thuat nuoi bo cau phap ,huong dan nuoi bo cau phap , nuoi bo cau phap sinh san , phuong phap nuoi bo cau phap , chan nuoi bo cau phap , nuôi bồ câu pháp
lam giau nho uoi bo cau phap, mô hình nuôi chim bồ câu pháp , chim bố câu pháp giống , kỹ thuật nuoi6i chim bồ câu pháp , quy trình kỹ thuật nuôi chim bồ câu pháp , huong dan nuoi chim bo cau phap , nuoi chim bo cau phap sinh san , cach nuoi chim bo cau phap de , kỹ thuật nuôi bồ câu gà , kỹ thuật nuôi bồ câu đẻ , tim hieu ve bo cau phap